Bệnh tay chân miệng – tổng quan và điều trị

bệnh tay chân miệng

Tay chân miệng mặc dù là một bệnh lành tính có thể khỏi sau 5-7 ngày điều trị, nhưng nếu không được can thiệp y tế kịp thời có thể khiên trẻ em bị viêm cơ tim, viêm phổi, suy hô hấp, viêm não,… nghiêm trọng hơn có thể đe dọa đến tính mạng.

Mời quý vị phụ huynh cũng chúng tôi tham khảo qua bài viết dưới đây để hiểu rõ nguyên nhân, dấu hiệu cũng như phác đồ điều trị y tế bệnh lý này.

Bệnh tay chân miệng là gì?

Bệnh tay chân miệng có tên tiếng anh là Hand, foot and mouth disease (viết tắt: HFMD).

Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 gây ra, dễ bị lây truyền qua đường tiêu hóa hay tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ các bọng nước, phân, nước bọt hay dịch tiết mũi họng.

Bệnh có thể được phát hiện ở bất kỳ độ tuổi nào, gặp nhiều ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi.

Tại Việt Nam, tuy thời điểm có thể mắc bệnh tay chân miệng là quanh năm nhưng thời điểm từ tháng 3 – 5 và tháng 9 – 12 số ca trẻ em nhiễm bệnh có xu hướng tăng rõ rệt.

Biểu hiện đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước xuất hiện tập trung ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và bên trong miệng của trẻ, đầu gối và mông.

Nguyên nhân gây bệnh

Nhóm virus đường ruột, nổi bật là virus Coxsackievirus A16 (nhóm A16) và Enterovirus 71 (EV71) là nguyên nhân chính gây ra bệnh tay chân miệng.

Dễ bắt gặp nhất là nhóm A16 với các triệu chứng nhẹ, ít biến chứng, thường có thể tự khỏi. EV71 nguy hiểm hơn thậm chí có thể gây ra tử vong.

Những loại virus khác (Coxsackie A4-A7, A9, A10 hoặc virus Coxsackie nhóm B) thường gây bệnh nhẹ hơn.

Virus truyền nhiễm bệnh tay chân miệng có hình cầu, đường kính từ 27 – 30nm, sống trong đường tiêu hóa có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, dịch từ nốt phỏng nước, chất bài tiết của bệnh nhân hoặc từ môi trường có nhiễm virus.

Ban đầu khi xâm nhập vào cơ thể, virus cư trú chủ yếu tại niêm mạc má hoặc niêm mạc ruột, di chuyển dần đến các hạch bạch huyết xung quanh, sau đó xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng máu. Đích đến cuối cùng của virus là niêm mạc miệng và da.

Lý do để trẻ em dưới 5 tuổi trở thành đối tượng dễ mắc bệnh có thể kể đến:

  • Sức đề kháng của trẻ chưa đủ mạnh, khả năng loại trừ hoặc tiêu diệt virus gây bệnh kém.
  • Người lớn xung quanh có thói quen hôn hít hoặc tiếp xúc gần với trẻ (do virus lây qua đường hô hấp) dễ làm lây lan virus.
  • Các bé có thói quen đến những nơi công cộng như nhà trẻ, sân chơi kém vệ sinh… sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
  • Đối với trẻ nhỏ với nhau khả năng tự phòng bệnh chưa cao nên dễ lây nhiễm từ bạn bè xung quanh.
  • Biểu hiện ban đầu dễ nhầm lẫn với cảm, sốt thông thường khiến phụ huynh và nhà trẻ không kịp thời cho trẻ cách ly với trẻ khác, dễ khiến trẻ lây chéo cho nhau.

Bệnh tay chân miệng bao gồm những biểu hiện nào?

Dựa trên lâm sàn, biểu hiện đặc trưng của bệnh có thể nhận biết qua 4 giai đoạn tiêu biểu sau:

  • Giai đoạn ủ bệnh: khoảng 3 – 7 ngày đầu, cơ thể của bé chưa có các dấu hiệu cụ thể.
  • Giai đoạn khởi phát: từ 1-2 ngày tiếp theo xuất hiện một số biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.
  • Giai đoạn toàn phát: có thể kéo dài 3 – 10 ngày, với các triệu chứng điển hình như:
    • Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú,…
    • Phát ban dạng phỏng nước: đặc điểm này biểu hiện rõ nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Ban đầu, nốt ban hồng có đường kính vài milimet, nổi trên bề mặt da ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, miệng, mông và trở thành bóng nước. Bóng nước chứa đầy chất dịch và có thể vỡ ra khiến trẻ rất đau đớn. Chúng có thể để lại vết thâm, tuy nhiên rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.
    • Trẻ có thể sốt nhẹ, nôn.
    • Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2-5 của bệnh.
  • Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.

Bên cạnh những nốt phát ban,cơ thể trẻ có thể xuất hiện các triệu chứng như: bỏ ăn, ăn kém, chảy dãi nhiều, sốt cao, quấy khóc, li bì, chới với,… Một số bé xuất hiện biến chứng về thần kinh thường giật mình, chới với khi ngủ hoặc co giật, thậm chí hôn mê; một số trường hợp lại xuất hiện biến chứng liên quan đến phổi như: suy hô hấp, tím tái,…

Cần đưa bé gặp và thăm khám bác sĩ tại các cơ sở y tế để tránh những biển chứng nguy hiểm nếu phát hiện các dấu hiệu trên.

Biến chứng

Phần lớn bệnh tay chân miệng có thể tự khỏi và không ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Tuy nhiên cũng cần lưu ý nhiều trường hợp bệnh lại gây ra những biến chứng rất nguy hiêm, đặc biệt lưu ý ở đối tượng bệnh nhân là trẻ em.

Các biến chứng phổ biến có thể kể đến như: mất nước, xuất hiện các vết lở, loét trong miệng và cổ họng khiến việc nuốt gặp khó khăn và đau đớn, do đó trẻ thường lười ăn, uống,…

Một vài biến chứng hiếm gặp khác nhưng vô cùng nguy hiểm:

  • Viêm màng não do virus: Đây là tình trạng nhiễm trùng và viêm ở màng não và dịch não tủy (bao quanh não cùng tủy sống).
  • Viêm não: Tình trạng này rất nghiêm trọng và có khả năng đe dọa đến tính mạng, do virus gây ra viêm ở não.
  • Liệt chi: người bệnh yếu, liệt mềm một hoặc nhiều chi.

Đồng thời, bệnh cũng có thể gây biến chứng ảnh hưởng hô hấp tuần hoàn như: tổn thương cơ tim, suy tim, trụy tim mạch, phù phổi cấp và tử vong nhanh chóng.

Chẩn đoán bệnh tay chân miệng

Chẩn đoán ca lâm sàng: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học

  • Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian.
  • Lâm sàng: Phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không.

Chẩn đoán xác định: bác sĩ cũng có thể lấy mẫu trong cổ họng hoặc lấy mẫu phân và gửi đến phòng thí nghiệm. Xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh.

Bác sĩ sẽ cần phải phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh do virus gây ra khác bằng cách đánh giá các yếu tố sau:

  • Độ tuổi của người nhiễm bệnh.
  • Các dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng của bệnh.
  • Hình dạng của các vùng phát ban hoặc vết loét.

Phương pháp điều trị

Bệnh chân tay miệng hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

Mục tiêu điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và các biện pháp điều trị tích cực để duy trì chức năng sống đối với những trường hợp nặng, đặc biệt khi có suy tuần hoàn, suy hô hấp.

Hầu hết các trường hợp bị tay chân miệng thông thường đều có khả năng tự phục hồi trong vòng 7–10 ngày.

Các thuốc bôi gây tê tại chỗ có tác dụng giảm đau khi bị loét trong miệng. Một số thuốc giảm đau thường được sử dụng để giảm bớt cảm giác khó chịu như paracetamol hay ibuprofen.

Cần lưu ý, không sử dụng thuốc aspirin để giảm đau cho trẻ dưới 18 tuổi vì có khả năng gây ra hội chứng Reye – một căn bệnh hiếm gặp nhưng có thể gây tử vong ở trẻ.

Một vấn đề đáng chú ý khác là dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh tay chân miệng. Trong khi đó, nguyên nhân gây ra bệnh tay chân miệng là do virus, và kháng sinh chỉ có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn. Đây là sai lầm rất thường gặp của các bậc phụ huynh. Nguyên tắc điều trị là không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm.

Trường hợp người bệnh có các dấu hiệu chuyển biến nặng như: sốt cao từ 38 độ C trở lên; thở mệt; giật mình, run chi, chới với, quấy khóc, bứt rứt, đi loạng choạng; ngủ nhiều, li bì; co giật, hôn mê; cần được đưa đến bệnh viện để được điều trị.

Phương pháp điều trị cụ thể tùy theo từng mức độ mắc bệnh (từ độ 1 đến độ 4). Dù ở bất cứ cấp độ nào, người bệnh đều cần được nghỉ ngơi hợp lý và theo dõi tình trạng sức khỏe thường xuyên. Ngoài ra trong quá trình điều trị cho người bệnh từ cấp độ 2 đến cấp độ 4, các bác sĩ còn áp dụng những phương pháp điều trị chống co giật, phù não, điều trị sốc và điều trị suy hô hấp.

Phòng bệnh như thế nào?

Vaccine ngừa tay chân miệng hiện nay chỉ Trung Quốc sản xuất nhưng không nhập về Việt Nam. Hiện ở Việt Nam đang thử nghiệm giai đoạn 3 vaccine của Đài Loan ở hai tỉnh miền Tây là Đồng Tháp và Tiền Giang. Nếu thử nghiệm này tốt, có lẽ vào năm 2022 vắc xin này mới có ở thị trường Việt Nam.

Tuy chưa có vaccine, nhưng vẫn có thể phòng bệnh bằng các biện pháp đơn giản sau đây

Vệ sinh cá nhân sạch sẽ

Vệ sinh cá nhân sạch sẽ phòng ngừa bệnh tay chân miệng
Vệ sinh cá nhân sạch sẽ phòng ngừa bệnh tay chân miệng

Người lớn và trẻ em nên rửa tay thường xuyên bằng xà phòng nhiều lần trong ngày, nhất là trước khi chế biến thức ăn, trước khi ẵm bồng trẻ, sau khi đi vệ sinh.

Tắm rửa, vệ sinh cá nhân sạch sẽ giúp ngăn ngừa được nhiều loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

Vệ sinh trong việc ăn uống

Thức ăn, và nước uống cần được nấu chín, đầy đủ dinh dưỡng.

Các vật dụng, dụng cụ trong bếp cần rửa sạch và khử trùng kỹ trước khi sử dụng. Không để trẻ ngậm mút khay thức ăn, dụng cụ ăn,… khi chưa được khử trùng.

Làm sạch đồ chơi của trẻ, bề mặt tiếp xúc, nơi sinh hoạt

Nhà trẻ, trường học và hộ gia đình cần thường xuyên vệ sinh sạch sẽ những bề mặt tiếp xúc hàng ngày như bàn ghế, đồ chơi, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, sàn nhà, dụng cụ học tập bằng xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường.

Cách ly và điều trị kịp thời

Tình trạng sức khỏe của trẻ cần được theo dõi thường xuyên để kịp thời phát hiện và điều trị các trường hợp bệnh tay chân miệng, tránh lây nhiễm chéo cho những trẻ khác.

Theo dõi và phát hiện sớm

ác hộ gia đình, nhà trẻ có trẻ dưới 5 tuổi cần chủ động theo dõi sức khỏe để kịp thời phát hiện và đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị kịp thời. Khi trẻ bệnh cần cách ly ít nhất 10 ngày kể từ khi bệnh khởi phát, không nên cho trẻ có những biểu hiện mắc bệnh đến lớp chơi với những trẻ khác. Cần thực hiện khử khuẩn lớp học, nhà ở, đồ chơi, bề mặt các vật dụng… khi phát hiện có trẻ mắc bệnh để tránh lây nhiễm cho các trẻ khác trong lớp và trong gia đình.

Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý

Bổ sung chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp tăng đề kháng phòng ngừa bệnh tay chân miệng
Bổ sung chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp tăng đề kháng phòng ngừa bệnh tay chân miệng

Trẻ em mắc bệnh tay chân miệng không cần kiêng ăn uống.

Ở giai đoạn này bé cần được bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng cường sức đề kháng, cơ thể nhanh phục hồi sau bệnh. Với trẻ đang bú sữa mẹ thì tiếp tục cho bé bú nhiều nhất có thể. Sữa mẹ cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào và an toàn, bên cạnh đó, các kháng thể từ mẹ giúp bé khoẻ hơn để chống lại tác động từ môi trường.

Với trẻ ăn dặm, gia đình có thể phối hợp đa dạng các loại thức ăn. Ăn đủ và đa dạng vừa kích thích khẩu vị của bé, vừa giúp bé có nguồn nguyên liệu để phục vụ cho sự phát triển của cơ thể.

  • Tinh bột: gạo, ngô, khoai, lúa mạch,…
  • Protein: thịt lợn, thịt bò, thịt cá,…
  • Vitamin và chất xơ: hoa quả và các loại rau củ.
  • Canxi: các loại hải sản như cá nước mặn, tôm, cua, ghẹ, mực,…
  • Khác: trứng, sữa, sữa chua,…

Xem thêm Siro HiBaby đạt chứng nhận FDA giúp trẻ tăng sức đề kháng >> https://antoanvoisuckhoe.com/cua-hang/siro-hibaby/

Siro HiBaby-đạt chứng nhận FDA tăng cường sức đề kháng cho trẻ
Siro HiBaby-đạt chứng nhận FDA tăng cường sức đề kháng cho trẻ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

DMCA.com Protection Status
Messenger
Gọi ngay
Chat ngay
Chat Zalo