Hương Phụ (cỏ gấu) – Hình dáng, tác dụng dược lý và những điều cần biết

Hương Phụ (cỏ gấu)

Đông y có câu “Nam bất thiểu Trần Bì, nữ bất ly Hương Phụ”  nghĩa là chữa bệnh nam giới không thể thiếu Trần Bì, chữa bệnh nữ giới phải có Hương Phụ.

Trong tự nhiên dược liệu này chính là cỏ gấu ảnh hưởng đến xấu nhà nông, vì vậy nếu xử lý đúng cách có thể vừa giải quyết được 1 loại cỏ dại vừa có thêm 1 vị thuốc.

Hương Phụ và một số tên gọi khác

Tên dân gian: củ gấu, cỏ gấu, cỏ cú,…

Tên khoa học: Cyperus rotundus L.

Họ khoa học: thuộc họ Cói (Cyperaccae).

Mô tả

Cây cỏ gấu (Hương Phụ)
Cây cỏ gấu (Hương Phụ)
  • Cây cỏ gấu có 2 loại: một loại mọc dại ở vườn nhà, một loại mọc ở vùng bờ biển (Hải Hương Phụ).
  • Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu năm, chiều cao thân dao động từ 20 cm đến 60 cm.
  • Thân rễ phát triển thành củ, củ to hay nhỏ còn tùy vào đất rắn hay xốp. Hải Hương Phụ có có củ to và dài hơn Hương Phụ thông thường.
  • Lá cỏ gấu nhỏ hẹp, có gân nổi lên giữa lưng, lá cứng và bóng, phần dưới ôm lấy thân cây.
  • Hoa thường mọc vào tháng 6, có khoảng từ 3-8 cụm hình tán, màu xám nâu, hoa lưỡng tính, 3 nhị, độ dài tầm 2 mm, nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ.
  • Quả 3 cạnh màu xám.

Bộ phận dùng làm dược liệu: rễ củ.

Phân bố

Cỏ gấu là một loại thực vật dễ sinh trưởng (1 đoạn thân rễ nhỏ cũng đủ phát triển hàng loạt), tuy nhiên loài cây này ưa sáng nên nếu có một giống cây khác phát triển nhanh hơn, che phủ kín mặt đất thì cỏ gấu không sinh trưởng được.

Củ gấu mọc hoang ở khắp nơi, đất càng xốp củ càng to và dễ đào.

Thu hoạch và bào chế

Củ Hương Phụ thô
Củ Hương Phụ thô

a – Thu hoạch

Do tính chất mọc hoang nên Hương Phụ có thể thu hoạch quanh năm, nhưng thường hay đào vào mùa xuân, rễ củ sẽ chắc và tốt hơn.

b – Bào chế

Theo Trung Y

Rửa sạch, mài xác trên đá nhám cho hết vỏ, ngâm vào nước tiểu trẻ em cho mềm.

Sau đó đem phơi khô giã nát, có thể dùng sống, tẩm giấm, tẩm muối hoặc sao lên tùy trường hợp.

(Phương pháp theo Lý Thời Trân)

Theo y học Việt Nam

Xử lý sơ bộ: Cây sau khi đào lên đem phơi cho khô, vun thành đống đốt cho lá và rễ con cháy hết, còn lại củ thì đem rửa sạch rồi sấy hoặc phơi cho khô.

  • Hương Phụ mễ: sau khi xử lý sơ bộ, trộn với trấu (1 kg củ / 0.5 kg trấu) dùng chày nhọn mà giã cho trụi hết lông vỏ. Cần chú ý không để thuốc bị nát.
  • Hương Phụ thán: Hương Phụ đã sơ chế đem sao thuốc đến khi cháy đen tồn tính, sau đó để nguội rồi tán bột.
  • Hương Phụ tứ chế (phương pháp phổ biến):
    • Dùng 1 kg Hương Phụ mễ chia làm 4 phần, mỗi phần 250 gram.
      • Phần 1: tẩm 200 ml giấm (độ acid acetic ± 5%).
      • Phần 2: tẩm 200 ml nước tiểu trẻ em khỏe mạnh (lấy phần giữa nước tiểu).
      • phần 3: tẩm 200 ml nước muối 15%.
      • Phần 4: tẩm 200 ml rượu 40°.
    • Mỗi phần tẩm 1 đêm, sau đó sao khô đến khi có mùi thơm, cuối cùng đem giã dập, tẩm rượu (trừ phần đã tẩm rượu)., tán bột để làm hoàn tán.
    • Bảo quản: Hương Phụ tứ chế chỉ nên dùng trong vòng 15 – 20 ngày, đậy kín.
  • Hương Phụ thất chế: tương tự như tứ chế nhưng tẩm thêm 3 phần nữa bao gồm: nước gừng, nước cam thảo, nước vo gạo.

(Phương pháp theo Đông Y Toàn Tập của lương y Nguyễn Trung Hòa).

Tuy nhiên theo giáo sư tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Hương Phụ sau khi xử lý sơ bộ đã có thể dùng sống, vẫn rất tốt.

Hương Phụ (cỏ gấu)
Hương Phụ (cỏ gấu) sau khi bào chế

Thành phần hóa học

Trong Hương Phụ chứa rất nhiều tinh bột và khoảng 0.3 – 2.8% tinh dầu màu vàng.

Do thổ nhưỡng khác nhau nên tinh dầu chứa trong cỏ gấu của mỗi vùng cũng khác nhau, thành phần trong tinh dầu chủ yếu gồm: 32% cyperen (C15H24), 49% rượu cyperola (C15H24O), các acide béo và phenol.

Thành phần trong tinh dầu Hương Phụ một số vùng: Ấn Độ chứa cyperon (C15H22O), Trung Quốc chủ yếu là cyperen và izocyperotundone, Nhật Bản chứa α-cyperon,…

Tác dụng dược lý

  • Tính vị theo Đông Y: vị cay, hơi đắng, ngọt.
  • Quy kinh: vào 2 kinh can và tam tiêu.
  • Công dụng: lý khí, giải uất, điều hòa kinh nguyệt, chỉ thống (giảm đau), chữa khí uất, ung thư, ngực bụng chướng đau.

Năm 1935 Lưu Thiệu Quang dùng Hương Phụ bào chế thành cao lỏng 5%, thử nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ, chó, mèo và chuột bạch (thí nghiệm 102 lần) đã chỉ ra rằng cỏ gấu có khả năng ức chế sự co bóp của tử cung, làm dịu sự căng thẳng của tử cung, trực tiếp tác động lên cơ tử cung dù con vật mang thai hay không đều có tác dụng như nhau.

Năm 1959 Quý Dương y học viện chứng minh được tác dụng giảm đau của cỏ gấu trên chuột bạch.

Liều dùng trong ngày của Hương Phụ từ 6 gram – 12 gram, dùng dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên hoặc rượu thuốc đều được.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

DMCA.com Protection Status
Messenger
Gọi ngay
Chat ngay
Chat Zalo